Trà Vinh là tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, có hơn 69% diện tích đất nguồn gốc mặn, phèn, lại bị ảnh hưởng của triều biển Đông, khiến địa phương này hàng năm phải gánh chịu nhiều thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra. Tuy nhiên, với những cố gắng trong phát triển hệ thống thủy lợi, Trà Vinh đang ngày càng thích ứng dần với biến đổi khí hậu.
Tại Trà Vinh, đất bị nhiễm mặn đang có xu hướng lấn sâu vào nội đồng với thời gian kéo dài từ 3-6 tháng, gây nhiều khó khăn cho việc sản xuất. Phần lớn đất sản xuất nông nghiệp trong tỉnh phải nhờ vào nước trời do vùng sản xuất nông nghiệp tình trạng khô hạn, thiếu nước tưới vào mùa khô, mặn xâm nhập vào cuối vụ Thu Đông năm trước và đầu vụ Đông Xuân năm sau diễn ra thường xuyên.
Riêng vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ chủ yếu là nuôi theo hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến nhưng hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp. Vì vậy, trong những năm qua nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, Trung ương và tỉnh Trà Vinh đã cho xây dựng rất nhiều công trình thủy phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, Dự án thủy lợi Nam Mang Thít đã khép kín, đi vào hoạt động, thúc đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, dự án còn giúp địa phương thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và nâng cao đời sống của người dân khu vực nông thôn.
Hiện nay, toàn tỉnh Trà Vinh có 172 cống; Nhiều kênh tạo nguồn đa dạng cấp và đường kính; Đê biển, đê sông và bờ bao nội đồng 411,52 km; Kè bảo vệ bờ sông, bờ biển dài gần 13,5 km và 454 cầu giao thông nội đồng. Riêng đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đã cơ bản hoàn thành 11 công trình đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ nuôi thủy sản tập trung có diện tích gần 14.000 ha. Với hệ thống thủy lợi nêu trên trong điều kiện bình thường sẽ đáp ứng khoảng 90% nhu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và khoảng 50% diện tích các khu vực nuôi thủy sản được đầu tư kết cấu hạ tầng chuyển sang nuôi tôm bán công nghiệp và công nghiệp. Trong đó, nuôi tôm thâm canh mật độ cao được khoảng 600 ha, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể, nâng cao thu nhập và cải thiện được đời sống của người dân. Ngoài ra, các công trình thủy lợi cũng có tác động rất lớn tạo nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn, cụ thể:
Về kinh tế: Kinh tế nông nghiệp phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bình quân hàng năm khoảng 3%, cơ cấu nội ngành chuyển dịch đúng hướng giảm nông nghiệp tăng thủy sản; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi theo hướng đa dạng, phù hợp tiềm năng cũng như lợi thế của từng tiểu vùng kết hợp với ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông sản.
Về xã hội: Sản xuất nông nghiệp phát triển tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nông thôn. Toàn tỉnh hiện có khoảng 250 ngàn lao động tham gia sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn đến năm 2020 là 32 triệu đồng/người, tăng hơn 10 lần so với năm 1996, góp phần vào xóa đói, giảm nghèo; Hệ thống kênh, bờ kênh và đê tạo thành mạng lưới giao thông thủy bộ nông thôn rất thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa, nông sản của nhân dân trong khu vực; Đặc biệt, hệ thống thuỷ lợi Nam Măng Thít ngoài kiểm soát mặn, tưới tiêu chủ động còn kết hợp cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.
Về môi trường: Đáp ứng khoảng 90% diện tích đất nông nghiệp được ngăn mặn, kiểm soát mặn và chủ động điều tiết nước ngọt phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp; Cải tạo đất và thay đổi môi trường, môi sinh, nhất là vùng đất phèn của 04 huyện Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành và Duyên Hải từ 01 vụ lúa nhờ nước trời, năng suất bấp bênh, đến nay đã sản xuất thành 2-3 vụ lúa/năm. Bên cạnh đó, việc đầu tư các tuyến kè sông, kè biển cũng hạn chế sạt lở, bảo vệ sản xuất và đời sống dân sinh.
Nhằm tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, thời gian tới, tỉnh Trà Vinh sẽ tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
Xây dựng và kết nối với cơ sở dữ liệu để đáp ứng điều kiện ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hiện đại hóa công tác quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi, phục vụ phòng chống thiên tai; Hoàn thiện tổ chức và nâng cao năng lực quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Hoàn thiện đồng bộ hệ thống thủy lợi chống chịu được tác động của thiên tai, kiểm soát nguồn nước, chất lượng nước liên vùng, chủ động điều hòa, phân phối nguồn nước hợp lý cho các đối tượng sử dụng nước, thích ứng với biến đổi khí hậu; Hiện đại hóa công tác quan trắc, dự báo nguồn nước, quản lý, vận hành hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh; Xác định ranh giới, phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi theo quy định pháp luật, bảo vệ chất lượng nước trong công trình thủy lợi; Ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, phù hợp để hiện đại hóa hệ thống thủy lợi của tỉnh; Đẩy mạnh công tác truyền thông, kịp thời truyền tải thông tin khí tượng, thủy văn, nguồn nước, bảo vệ công trình thủy lợi, ảnh hưởng của thiên tai đến cấp huyện, xã, người dân và đơn vị liên quan.
Bài, ảnh: Di Khanh
Theo langngheviet.com.vn

